Trang phục

Nón thúng quai thao!

Nằm bên đường vào làng Chuông có một cửa hiệu nhỏ, đơn sơ treo một chiếc nón cổ và dòng chữ cũ kỹ, bụi phủ mờ vẽ bằng mực đỏ: Trần Canh - nhận làm nón cổ truyền thống.

 

Chủ nhân của cửa hiệu này chính là lão nghệ nhân Phạm Trần Canh, người thợ làm nón “số 1” ở làng Chuông và là người duy nhất ở làng Chuông hiện nay còn duy trì nghề làm nón thúng quai thao. Năm 2006 vừa qua, khi bước vào tuổi 75, ông đã được UBND tỉnh phong tặng danh hiệu nghệ nhân nghề thủ công truyền thống.

 

Chiếc nón không chỉ có tác dụng che nắng, che mưa mà còn là thứ trang sức làm tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Làng Chuông, xã Phương Trung (Thanh Oai) với nghề làm nón lá hàng trăm năm nay đã sáng tạo ra hàng chục kiểu nón làm đẹp cho các bà, các chị. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, phong cách ăn, mặc của người phụ nữ có những đổi thay nhất định. Chiếc nón quai thao truyền thống đã không còn phù hợp với cuộc sống năng động ngày nay nên nghề làm nón cổ cũng dần mai một. Các khuôn mẫu và kiểu cách làm nón thời xưa không được gìn giữ trở nên thất truyền. Những người thợ nón làng Chuông nhiều năm nay đã chuyển sang làm các mẫu nón thông thường phục vụ chị em và làm hàng xuất khẩu, hàng lưu niệm.

 

Sinh ra ở làng nghề nón Chuông truyền thống, lên 8- 9 tuổi ông Phạm Trần Canh đã biết làm các mẫu nón cổ truyền. Những năm tháng chiến tranh, ông xung phong vào bộ đội, góp mặt trong nhiều trận đánh và để lại một phần cơ thể của mình nơi chiến trường. Trở về địa phương với thương tật 2/4, ông không còn đủ sức làm những việc nặng nhọc song cũng không chịu buông xuôi. Ông tích cực tham gia công tác chính quyền địa phương, sau những giờ phút làm việc, ông lại khâu nón để tăng thêm thu nhập phụ giúp gia đình. Bước sang những năm 90 của thế kỷ XX, một số đoàn văn công, đoàn quan họ nghe “thương hiệu” nón Chuông đã tìm về địa phương để đặt làm những chiếc nón cổ, nón thúng quai thao làm phục trang biểu diễn, nhưng nghề làm nón cổ làng Chuông đã thất truyền nhiều năm nên cả làng nghề không còn ai biết làm. Trăn trở trước nghề truyền thống cùng những giá trị văn hóa tinh thần của cha ông dần mai một, ông Phạm Trần Canh đã quyết tâm sưu tầm và khôi phục lại nghề khâu nón cổ truyền.

 

Ông Canh bắt đầu với cuộc hành trình làm “sống lại” chiếc nón cổ quê mình cũng vất vả chẳng kém thời gian ông ở chiến trường, bởi qua thời gian, những nguyên, vật liệu và khuôn mẫu cũ để làm nón của làng đã không còn. Ban đầu, ông phải đi nhiều nơi, đến các vùng Bắc Ninh, Hưng Yên, Hòa Bình... để tìm mua những chiếc nón thúng quai thao, nón dân tộc Thái cũ về tháo ra rồi đo đạc, để ý từng chi tiết hoa văn, cách đan vòng, xếp lá đến những đường khâu rồi hồi tưởng lại những chiếc nón cổ khi còn nhỏ ông vẫn thường nhìn bà nội làm và chị em phụ nữ đội đầu. Công đoạn làm nón cổ không hề đơn giản, ngoài lòng tâm huyết yêu nghề, nó còn đòi hỏi sự tỷ mỷ, kiên trì và óc thẩm mỹ rất cao.

 

Một chiếc nón quai thao cổ thường ghép bằng 4 lọn lá (lá làm nón lấy từ búp cây cọ, trải qua nhiều công đoạn phơi, là, ép mới thành), phía bên trong mặt nón được ghép bằng những mảnh vải đỏ hoặc vàng trải phẳng, chỗ buộc quai nón được đan bằng những sợi chỉ nhiều màu sắc... Với nhiều công đoạn phức tạp nên so với làm nón thông thường mỗi ngày khâu được 5-6 chiếc thì làm nón cổ, dù làm nhanh mỗi ngày ông cũng chỉ có thể khâu được 1 chiếc mà thôi. Với sự cần mẫn và lòng yêu nghề, cuối cùng, ông đã hoàn thành những chiếc nón quai thao, nón ba tầm đầu tiên. Những chiếc nón cổ được hồi sinh trở thành phục trang quen thuộc của các đoàn nghệ thuật và là một vật dụng trang trí nghệ thuật trong các ngôi nhà.

 

Sau những chiếc nón quai thao đầu tiên được hoàn thành giao cho những đoàn văn công, đoàn quan họ, ông Canh lại tiếp tục phục chế lại nhiều mẫu nón cổ khác như nón dân tộc Thái, nón chóp dứa, nón lá già ghép sóng, nón Lâm Sung (nón Hồng Kông)... Riêng nón thúng quai thao cũng được chia làm 4 loại theo nhiều kiểu dáng khác nhau như nón ba tầm, lòng chảo với các kích cỡ khác nhau dùng trong biểu diễn nghệ thuật, treo trang trí hoặc trưng bày. “Tiếng lành đồn xa”, năm 2001, ông Canh đã nhận được đơn đặt hàng làm 2 chiếc nón thúng quai thao khổng lồ có đường kính rộng 2m mang tham dự triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ tại Cộng hòa Séc và Đức. Để hoàn thành 2 chiếc nón khổng lồ này, ở tuổi 70, ông đã phải lao động miệt mài, không ngừng nghỉ trong thời gian 15 ngày.

 

Giờ đây, khi đã bước sang tuổi 76, ông Phạm Trần Canh vẫn còn sáng tạo. Hàng ngày, ông vẫn ngồi trước hiên nhà, cần mẫn với công việc khâu nón phục vụ các đoàn nghệ thuật và du khách gần xa. Duy trì nghề làm nón cổ không chỉ giúp ông có thêm nguồn thu nhập cho gia đình mà còn gióp phần vào gìn giữ, bảo tồn những nét văn hóa độc đáo của Việt Nam. Tuy nhiên, điều ông đang rất trăn trở hiện nay đó là số người biết làm nón cổ ở làng ngoài ông ra không còn ai. Lớp trẻ cũng không mấy “mặn mà” với nghề này nên việc truyền nghề, giữ nghề đang gặp nhiều khó khăn. Mong muốn lớn nhất của ông là có những người tâm huyết, yêu những giá trị văn hóa cổ để truyền nghề và giữ nghề truyền thống.